Đặt làm trang chủ Giỏ hàng (0)

Tiểu Sử Trịnh Công Sơn

 

Trịnh Công Sơn chào đời ngày 28.2.1939 tại Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk), nơi cha mẹ ông tạm cư lập nghiệp từ năm 1937.

Thân phụ của Trịnh Công Sơn là ông Trịnh Xuân Thanh, một doanh nhân yêu nước, vừa kinh doanh vừa tham gia hoạt động chống thực dân Pháp, quê gốc làng Minh Hương, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Trà (Thừa-Thiên-Huế). Thân mẫu của Trịnh Công Sơn là bà Lê Thị Quỳnh, một người mẹ đảm đang, nhân hậu, có cảm nhận tinh tế và sâu sắc về thi ca và âm nhạc. Trịnh Công Sơn là con trưởng, sau ông còn bảy người em, hai trai, năm gái: Trịnh Quang Hà, Trịnh Xuân Tịnh, Trịnh Vĩnh Thúy, Trịnh Vĩnh Tâm, Trịnh Vĩnh Ngân, Trịnh Hoàng Diệu và Trịnh Vĩnh Trinh.

Năm 1943, theo gia đình hồi hương về Huế, Trịnh Công Sơn sống suốt thời niên thiếu tại đây trong một không gian văn hóa cố đô giàu Phật tính. Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là trường Trường An), trường trung học Lycée Français, rồi trường Providence, sau đó theo học ban Triết tại trường Chasseloup-Laubat (Jean-Jacques Rousseau), Sài Gòn.

Khi Trịnh Công Sơn 16 tuổi (năm 1955), thân phụ qua đời vì tai nạn giao thông. Đó là một tổn thất quá lớn đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với ông:  Nỗi ám ảnh ấy chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tra tấn chết đi sống lại của ba tôi trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Rất nhiều bài hát đầu đời của tôi đã phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất mát. Càng về sau, lúc tiến dần về tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không hay ngọn nguồn của một nỗi âu lo thường trực về sự vắng bóng con người.

Năm 1957, lúc đang tuổi 18 sung sức và sôi nổi, Trịnh Công Sơn bị thương nặng tới mức suýt mất mạng trong một lần luyện tập võ thuật, phải nằm điều dưỡng gần hai năm tại Huế. Chính trong hoàn cảnh đó, ông có những khoảng lặng để suy ngẫm sự đời và giành nhiều thì giờ tìm đọc các tác gia văn học, triết học của cả phương Tây lẫn phương Đông, những Apollinaire, Marcel Proust, Jacques Prévert, những Nietzsche, Albert Camus, Jean Paul Sartre, những Nguyễn Du, Rabindranath Tagore, những sách Thiền và giáo lí Phật giáo... Lòng đam mê âm nhạc bẩm sinh bỗng bừng dậy trong ông và định mệnh bất ngờ dắt ông theo con đường sáng tác ca khúc.

Năm 1959, Trịnh Công Sơn trình làng nhạc phẩm đầu tiên: Ướt Mi. Thực ra bài hát này được sáng tác từ năm 1958, và trước đó, năm 1957,  ông đã có hai bài hát khác nhưng chưa được công bố: Sương Đêm Chơi Vơi. Hãy nghe ông kể: “…Tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong...”.

Đầu thập niên 1960 và 70, trong đó có hai năm ông học trường Sư Phạm Qui Nhơn    một năm dạy tiểu học ở Bảo Lộc, là thời kì Trịnh Công Sơn cho ra đời hàng loạt những bản tình ca nổi tiếng : Phôi Pha, Diễm Xưa, Chiều Một Mình Qua Phố, Nhìn Những Mùa Thu Đi, Biển Nhớ, Mưa Hồng, Vết Lăn Trầm, Ru Em Từng Ngón Xuân Hồng, Như Cánh Vạc Bay, Cát Bụi…Ông tự nhận: "...Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo...". " ...Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn. Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành..."

 

Chiến tranh tàn khốc nhất, từ 1965 đến 1975, là giai đoạn quyết liệt nhất trong hành trình ca khúc Trịnh Công Sơn. Ông cho ra đời dồn dập những bài hát lay động lương tri về thân phận con người, về quê hương, dân tộc và khát vọng hòa bình: Gia Tài Của Mẹ, Ngủ Đi Con, Đại Bác Ru Đêm, Tình Ca Người Mất Trí, Nối Vòng Tay Lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội…  Các tập nhạc gây chấn động liên tiếp được ấn hành: Ca Khúc Trịnh Công Sơn (1967), Ca Khúc Da Vàng (1967), Kinh Việt Nam (1968), Ca Khúc Da Vàng 2 (1969), Ta Phải Thấy Mặt Trời (1969), Phụ Khúc Da Vàng (1972)…Tiếng hát Trịnh Công Sơn – Khánh Ly vang vọng ra thế giới. Riêng tại Nhật Bản, bài Diễm Xưa  của ông vào chung kết cuộc thi những bài hát nước ngoài hay nhất và sau này được đưa vào chương trình nghiên cứu của tại một trường Đại học ở Tokyo; bài Ngủ Đi Con đoạt danh hiệu “Đĩa Vàng” năm 1970 với lượng phát hành trên hai triệu đĩa. Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển Bách Khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp...

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Trịnh Công Sơn sống ở Huế trong hoàn cảnh khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, hầu như không sáng tác được gì đáng kể.

Năm 1979, ông vào ở hẳn Sài Gòn, nhà 47C, đường Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân cũ) và từ 1980 bắt đầu một thời kì sáng tác mới, vẫn giữ được riêng bản sắc Trịnh Công Sơn. Ông tiếp tục chinh phục người hâm mộ bằng hàng loạt ca khúc, lúc thiết tha tình tự, lúc đậm đà phong vị Thiền, những Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, Chiều Trên Quê Hương Tôi, Hà Nội Mùa Thu, Huyền Thoại Mẹ, Lời Thiên Thu Gọi, Tiến Thoái Lưỡng Nan, Như Một Lời Chia Tay, Sóng Về Đâu, Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng …

Từ năm 1997, sức khỏe của Trịnh Công Sơn suy giảm nhanh chóng. Sau một thời gian bệnh nặng, ông mất vào ngày 01 tháng Tư năm 2001, thọ 62 tuổi, để lại cho đời cả  gia tài đồ sộ gồm trên dưới 600 ca khúc.

Bản quyền thuộc về trinhcongson.vn © 2011.
Powered by